Sau gần 30 năm tham gia xuất khẩu, ngành điềuViệt Nam không ngừng phát triển lớn mạnh, năm 2006, Việt Nam là quốc gia xuấtkhẩu điều nhân lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, hiện ngành điều đang phải đối mặtvới nhiều khó khăn, thách thức, nhất là còn đe dọa tới sự phát triển bền vững củangành này.
Năng suất,chất lượng chưa tương xứng tiềm năng
Theo số liệu thống kê và báo cáo từ Sở Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) các tỉnh, diện tích cây điều cả nướcnăm 2017 là hơn 300 nghìn ha, tăng gần 9.000 ha so với năm 2016. Như vậy, diệntích điều của Việt Nam sau tám năm giảm liên tục (từ 440.000 ha năm 2007 xuốngcòn 290.000 ha vào năm 2015), đến năm 2016 đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi.Chuyên gia phân tích thị trường Lê Văn Liền cho rằng, diện tích trồng điều sụtgiảm trong những năm gần đây đã hạn chế khả năng tăng sản lượng để phục vụ nhucầu chế biến trong nước, nhất là trong bối cảnh các doanh nghiệp chế biến điềuthiếu nguyên liệu và phải nhập khẩu điều thô từ bên ngoài. Do thiếu nguyên liệu,ngành điều ngày càng phụ thuộc vào điều thô nhập khẩu từ các quốc gia Tây Phi,Cam-pu-chia. Tỷ lệ điều thô nhập khẩu vì thế có xu hướng tăng, năm 2007 tỷ lệnày là 39%, nhưng đến năm 2014, tỷ lệ này là 62,5%. Năm 2016, trong số 1,5 triệutấn điều nguyên liệu đưa vào chế biến thì đã có tới 1,025 triệu tấn hạt điều phảinhập khẩu (chiếm gần 70%).
Việc lệ thuộc điều nguyên liệu nhập khẩu đãgây ra nhiều khó khăn bởi hiện nay, sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được từ20 đến 25% nguồn nguyên liệu chế biến. Vì thế, nguồn cung điều thô thế giới nhữngnăm gần đây không tăng là một thách thức lớn đối với ngành chế biến và xuất khẩuđiều của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng của nguồn cung điều hằng năm chỉ đạt3,5%/năm, trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng trưởng là 6%/năm. Tình trạng cầu vượtcung, dẫn đến giá điều tăng, giá điều thành phẩm tăng, đã khiến người tiêu dùngchuyển dần sang các sản phẩm thay thế. Trong khi đó, là quốc gia xuất khẩu điềunhân lớn nhất thế giới và chủ yếu phải nhập điều thô từ các nước, Việt Nam chắcchắn sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp từ những biến động tiêu cực của thị trường.
Để nâng cao năng suất, chủ động nguồn cung tạichỗ không phải là việc dễ dàng. Cục trưởng Trồng trọt (Bộ NN và PTNT) Nguyễn HồngSơn cho biết, hiện nay diện tích điều già cỗi, lẫn giống sinh trưởng kém chiếmtỷ lệ lớn, khoảng 80 nghìn ha ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Điều đáng nói, phầnlớn diện tích này đã được quy hoạch, thuộc vùng sản xuất tập trung có điều kiệnkhí hậu, đất đai, cơ sở hạ tầng phù hợp cho phát triển cây điều, nhưng năng suấtbình quân lại thấp, hiệu quả sản xuất không cao. Điều này đang ảnh hưởng trựctiếp đến sự phát triển bền vững của ngành điều. Cùng với đó, ảnh hưởng của biếnđổi khí hậu ngày càng nặng nề. Tình trạng hạn hán, mưa trái mùa tác động rất lớnđến cây điều, chưa kể sự xuất hiện của sâu bệnh làm giảm năng suất, khiếnnông dân nghèo thiếu vốn đầu tư. Đơn cử năm 2016 sản lượng điều của nước tagiảm 16,67% so với 2015. Sang năm 2017, người trồng điều tiếp tục gặp khó khăn,khi sản lượng giảm 31,36% so với năm 2016. Ngoài ra, sản xuất điều ở nước taphân tán, trình độ thâm canh chưa cao, với diện tích điều tập trung chiếm61,7%, diện tích điều phân tán chiếm 38,3%. Bên cạnh đó, cơ cấu giống điềuchưa phù hợp, chọn tạo giống chưa được quan tâm đúng mức. Cụ thể, từnăm 1999 đến nay mới có 13 giống điều được chọn tạo và công nhận cho sảnxuất thử, chưa có giống được công nhận chính thức cho sản xuất.
Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sảncho biết, cả nước có hơn 300 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu điều, trong đó chủyếu là các doanh nghiệp có kim ngạch dưới năm triệu USD/năm. Do thiếu vốn, phầnlớn doanh nghiệp chưa đầu tư được dây chuyền công nghệ chế biến đủ tiêu chuẩnxuất khẩu, mới chỉ dừng ở mức độ sơ chế, gia công thô, dẫn đến hàng hóa khôngcó thương hiệu, thiếu sức cạnh tranh. Trong khi đó, nước ta chủ yếu xuất khẩuđiều vào các quốc gia phát triển, có yêu cầu và tiêu chuẩn chất lượng cao. Do vậy,khả năng bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm kém sẽ làm giảm lợi thế cạnh tranh củasản phẩm. Chuyên gia phân tích thị trường Lê Văn Liền cho biết, mặc dù là nướcxuất khẩu điều lớn nhất thế giới, Việt Nam chỉ tham gia vào khâu sơ chế, tươngđương 18% chuỗi giá trị điều, còn phần lợi nhuận lớn nhất vẫn nằm ở khâu chế biếnrang muối và phân phối với tổng giá trị gần 60%.
Sản xuấttheo quy trình, công nghệ hiện đại
Theo Bộ trưởng NN và PTNT Nguyễn Xuân Cường,ngành điều Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển vì nhu cầu người dùng ngày mộttăng. Tuy nhiên, ngành điều đang đối mặt với ba thách thức lớn, đó là nguyên liệu,chế biến và tiếp cận thị trường. Trước hết, phải dồn toàn lực cho sản xuấtnguyên liệu. Đây là nút thắt của ngành điều và muốn làm được điều đó phải có sựvào cuộc quyết liệt từ T.Ư tới địa phương.
Bàn về giải pháp phát triển ngành điều bền vững,nhiều chuyên gia cho rằng, năng suất điều có thể tăng từ 30 đến 40% nếu áp dụngđồng bộ khoa học và công nghệ tiên tiến trong canh tác. Theo Cục trưởng Trồngtrọt Nguyễn Hồng Sơn, để nâng cao năng suất, chất lượng cây điều thì việc táicanh, nâng cao chất lượng giống điều, trồng mới là một trong những biện phápquan trọng nhất. Thực tiễn cho thấy, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canhnăng suất điều tăng từ 24 đến 63% và nâng cao được hiệu quả sử dụng đất; thâmcanh còn giúp vườn cây thích ứng tốt biến đổi khí hậu, hạn chế ảnh hưởng củamưa trái mùa. Quy mô, phạm vi mở rộng thâm canh điều còn rất lớn, chi phí khôngcao. Để tăng hiệu quả, cần phải đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao tiếnbộ kỹ thuật thâm canh, tái canh và ghép cải tạo hướng dẫn người dân phòng trừ dịchhại. Chính quyền các địa phương cần thúc đẩy việc hình thành tổ chức sản xuất củangười trồng điều, các đơn vị có liên quan vận động các doanh nghiệp xúc tiếnliên kết, xây dựng vùng nguyên liệu, cánh đồng lớn.
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây điều(Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền nam) Trần Công Khanh cho rằng, đầu tưkhoa học và công nghệ là một trong những yếu tố mang tính quyết định. Nguồnnhân lực khoa học cần được quan tâm hàng đầu. Bên cạnh đó là chính sách, nhấtlà mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân. Quy hoạch vùng trồng điều thuộcdiện quản lý theo lâm nghiệp, vùng quảng canh, vùng thâm canh để có chính sáchđầu tư thỏa đáng. Hạn chế đến mức thấp nhất việc trồng điều bằng hạt, phát triểnkỹ thuật ghép điều. Khuyến khích doanh nghiệp trích lợi nhuận hỗ trợ sản xuấtđiều ghép cho vùng điều nguyên liệu. Kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất vàmua bán giống điều ghép để hạn chế mua bán giống điều không rõ nguồn gốc (đâylà vấn đề chính để có vườn điều chất lượng cao). Tiến tới xây dựng cánh đồng mẫusản xuất điều, các hợp tác xã kiểu mới để sản xuất điều thâm canh. Hình thànhliên kết sản xuất giữa nông dân để tạo thành những vùng nguyên liệu tập trungcó sản lượng và chất lượng cao, tiến tới xây dựng mô hình sản xuất điều có chứngnhận nhằm nâng cao chất lượng và giá trị, giữ vững thương hiệu điều Việt Nam