Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Xây dựng nông thôn mới khu vực ven đô ở vùng đông nam bộ gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa

ấn đề của khu vực này là: hạ tầng kỹ thuật chính không đấu nối; thiếu những tiện ích đô thị mang tính liên vùng; quỹ đất sản xuất bị xé nhỏ; không xác định quỹ đất dự trữ cho phát triển; phát triển ngành nghề, nhân lực không có chiến lược dẫn tới tình trạng di dân, đặc biệt là giới trẻ; những vấn đề môi trường thiếu kiểm soát; không gian xây dựng đô thị thiếu sự chuẩn bị; không có khả năng kêu gọi đầu tư vào cả lĩnh vực phát triển đô thị và sản xuất; công trình xây dựng thiếu kiểm soát, những tài sản như thiên nhiên, sinh thái, văn hóa xã hội có quy mô lớn hơn quy mô nông thôn cục bộ nhưng không được phát huy đúng mức.



Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2016-2020, nhiệm vụ và giải pháp năm 2017” của Thành ủy Hà Nội, hiện nay cơ cấu nông nghiệp của thành phố đã chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ lệ trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi, dịch vụ. 

Đây không chỉ là việc gọi tên theo tính chất của mỗi loại đô thị mà còn thể hiện xu hướng phát triển cũng như sự đa dạng của đô thị hiện đại; trong đó đô thị hài hòa với thiên nhiên, thân thiện với môi trường, xanh - sạch - đẹp - hiện đại là mô hình ưu tiên. Nói cách khác, trong nhận thức mới về đô thị nói chung, vấn đề là ở chỗ việc phát triển đô thị không đơn thuần chỉ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa là động lực vừa là hệ quả tất yếu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà đó còn/phải là nền tảng để xây dựng xã hội hài hòa, con người nhân văn, môi trường sống thân thiện và cảnh quan thiên nhiên sạch đẹp, trong lành.

Ở vùng Đông Nam Bộ, hiện trạng đô thị nhìn chung khá “trật tự”, bộ mặt đô thị khá đồng nhất. Trong từng đô thị riêng biệt, không gian và kiến trúc hiện đại từng bước được hình thành, trong khi cơ bản bảo tồn được các không gian đô thị cũ nhưng không lạc hậu, tạo ra bộ mặt phố xá hài hòa, bền vững. Sự phát triển, mở rộng trong nội tại từng đô thị cũng góp phần làm cho các đô thị của vùng từng bước “xích lại” gần nhau hơn, hình thành nên mạng lưới/ hệ thống đô thị liên hoàn và đa dạng, vừa hỗ trợ nhau trong phát triển, vừa tạo nên mối liên kết giữa đô thị và nông thôn. 

Đô thị giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế, xã hội, do vậy trong tương lai, việc phát triển đô thị sẽ vẫn là một trong những mục tiêu ưu tiên của chiến lược phát triển nói chung và trong xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nói riêng. Theo đó, định hướng chung của tỉnh là sẽ phấn đấu tăng nhanh tỷ lệ đô thị hóa cùng với nâng cao chất lượng các đô thị hiện có, mở rộng không gian phát triển đô thị ở những nơi có điều kiện. Đồng thời tiếp tục phát triển các chuỗi đô thị ở từng vùng, từng khu vực, hướng đến kết nối các đô thị, chuỗi đô thị với nhau. Cùng với đó, triển khai xây dựng đô thị thông minh tại một số địa phương phù hợp; chú trọng ứng dụng công nghệ từ quá trình hình thành, quản lý đến vận hành đô thị một cách hiệu quả, thông minh hơn. Trong quá trình phát triển, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng hạ tầng đồng bộ, hiện đại, văn minh... Riêng với khu vực đồng bằng ven biển - vùng kinh tế động lực của tỉnh, định hướng chính sẽ là phát triển đô thị gắn với các trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng cao cấp - công nghiệp sạch - nông nghiệp công nghệ cao. Trong quá trình phát triển, chú trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử; phục hồi hệ sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu... 

Tất nhiên, để giải được bài toán phát triển đô thị trong tương lai, cần phải có những “phương trình” chính xác, khoa học; trong đó có những “phép tính” nhỏ phù hợp và riêng cho từng giai đoạn, từng khu vực cụ thể. Chẳng hạn, với các đô thị hiện hữu, gắn với việc mở rộng, nâng cấp thì còn phải cải tạo - ít nhất là cải tạo để kết nối và đồng bộ hóa hạ tầng. Ngoài ra, trong quá trình mở rộng, nâng cấp, cải tạo đô thị nói chung, việc “làm mới” là cần thiết nhưng phải tôn trọng hiện trạng, giữ lại những không gian kiến trúc vốn đã là đặc trưng của mỗi đô thị hay của các khu vực cụ thể của từng đô thị cụ thể. Chỉ khi làm được việc ấy mới hy vọng có được một gương mặt đô thị có tổng quan kiến trúc mang tính đặc trưng, gần gũi, phù hợp với đặc thù văn hóa, tập quán của người Quảng Nam... như mong muốn.

Với các đô thị mới hình thành hoặc những khu vực đô thị mở rộng, trong khi quy hoạch phải tận dụng cho được ưu thế về không gian, mặt bằng, nên tránh tình trạng “ngang ngay sổ thẳng”, giải tỏa trắng để sau đó làm mới lại hoàn toàn. Nói cách khác, nên tận dụng, nương theo, dựa vào cảnh quan, địa hình, địa vật, địa thế có sẵn để quy hoạch mới, vừa có thể giảm bớt chi phí giải tỏa bồi thường, giảm bớt các tác động tiêu cực đến dân sinh vừa có thể tạo nên được những “quãng lặng” cần thiết cho đô thị. Triệt hạ cây xanh, san lấp sông ngòi, ao hồ... có thể tạo ra mặt bằng rộng cho việc phân lô, xây dựng hạ tầng, song các hệ lụy về xã hội, về cảnh quan, môi trường cũng chắc chắn là không nhỏ. Khi đó, phải tốn nhiều thời gian, công sức, tiền bạc mới có thể đạt được mục tiêu xây dựng đô thị sinh thái, nhân văn, thân thiện với môi trường. Trong quá trình quy hoạch đô thị, hoàn thiện kết cấu hạ tầng nội vùng, nhất thiết phải tính đến liên kết ngoại vùng, bao gồm liên kết về hạ tầng kỹ thuật lẫn liên kết về hạ tầng xã hội. Hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại của mỗi đô thị sẽ chỉ phát huy tác dụng một khi nó có sự kết nối với bên ngoài, khi nó là nơi quy tụ của một cộng đồng dân cư thân thiện, nhân ái, có ý thức thị dân đầy đủ.

TTHTQT