Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu khá toàn diện và to lớn. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được đó còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững



Để thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, Bộ Chính trị đã giao Ban Bí thư chỉ đạo "xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Ban Bí thư đã thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương và thông qua Ðề án về chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới, giao cho Ban Chỉ đạo Trung ương triển khai thực hiện. Đề án đã lựa chọn 11 xã điểm tại 11 tỉnh, thành phố, đại diện cho các vùng khác nhau của đất nước để tổ chức triển khai thực hiện.

Căn cứ Đề án được Ban Bí thư thông qua, Ban Chỉ đạo Trung ương đã ban hành các văn bản hướng dẫn các xã điểm đánh giá tình hình, xây dựng Đề án xây dựng nông thôn mới ở xã, tổ chức để Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể và nhân dân xã thảo luận, góp ý, sau đó nghe báo cáo, góp ý với đề án của 11 xã để các xã hoàn thiện, báo cáo các Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố phê duyệt làm căn cứ triển khai thực hiện. Ban Chỉ đạo, đồng thời, chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương có liên quan, ban hành các văn bản hướng dẫn trong phạm vi thẩm quyền của mình để thực hiện các nội dung của Đề án, như: Bộ Tài chính có Thông tư số 174/2009/TT-BTC ngày 8-9-2009 hướng dẫn cơ chế đặc thù về huy động và quản lý các nguồn vốn, Thông tư số 72/2010/TT-BTC ngày 11-5-2010 hướng dẫn cơ chế đặc thù về quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án đầu tư thực hiện Chương trình ở 11 xã điểm; Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 18/TT-BKH&ĐT ngày 27-7-2010 hướng dẫn cơ chế đặc thù về cơ chế đầu tư xây dựng cơ bản ở 11 xã điểm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát hành Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới; Tổng cục dạy nghề (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) triển khai dự án đào tạo nghề cho nông dân ở các xã điểm; Ngân hàng Nhà nước ban hành hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12-4-2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn... Các văn bản này đã giúp các xã điểm tháo gỡ khó khăn và có căn cứ pháp lý để chủ động triển khai thực hiện Chương trình.

Trong quá trình thực hiện Chương trình, các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương được phân công đã phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo các tỉnh, thành phố kiểm tra, đôn đốc các xã điểm; Thường trực Ban Chỉ đạo mỗi tháng một lần, Ban Chỉ đạo ba tháng một lần họp, đánh giá tiến độ và kết quả triển khai Đề án, phát hiện để chỉ đạo tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc cho xã, nhất là trong những năm đầu triển khai thực hiện Đề án. Định kỳ sáu tháng, một năm, Ban Chỉ đạo tổ chức sơ kết kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện, rút kinh nghiệm về nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện. Đầu năm 2012, Ban Chỉ đạo Trung ương đã tổ chức tổng kết, báo cáo Ban Bí thư về kết quả thực hiện Chương trình.

Ðể thực hiện mục tiêu xây dựng 11 xã điểm có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất và đời sống; có kinh tế phát triển, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp - dịch vụ, đô thị hóa theo quy hoạch; đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn được nâng cao, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn vững mạnh, Ðề án đã đề ra những nhiệm vụ lớn phải thực hiện.

Một là, trên cơ sở kế thừa các quy hoạch đã có, với sự hỗ trợ của Viện Kiến trúc, quy hoạch đô thị và nông thôn, Bộ Xây dựng, các xã điểm phải rà soát, bổ sung, xây dựng, hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã đến năm 2020, bao gồm quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ); quy hoạch hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch, trường học, nhà văn hóa, trạm y tế, trụ sở xã...; quy hoạch các khu dân cư, khu vực trung tâm xã, chợ; quy hoạch môi trường (cây xanh, hồ ao, nghĩa địa, khu xử lý rác thải; hệ thống thoát nước và xử lý nước thải...); quy hoạch, bảo tồn, chỉnh trang các di tích văn hóa, lịch sử... để ủy ban nhân dân huyện phê duyệt làm cơ sở cho việc thực hiện.

Trên cơ sở quy hoạch sẽ tổ chức việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng dẫn tiêu chuẩn của các bộ, ngành Trung ương, bao gồm hệ thống điện, đường giao thông, thủy lợi, cấp nước sạch cho sinh hoạt, chợ, nhà văn hóa thôn, trường học các cấp, trạm y tế, điểm bưu điện xã...

Thứ hai là, phát triển sản xuất hàng hóa và các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, có hiệu quả để tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Hướng dẫn nhân dân dồn điền đổi thửa, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, lựa chọn mô hình, phương án sản xuất có hiệu quả, cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ theo quy hoạch, phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, sản xuất những sản phẩm hàng hóa có lợi thế, có giá trị, sức cạnh tranh cao. Trên cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình, phát triển các trang trại sản xuất hàng hóa, các tổ hợp tác, hợp tác xã, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của người dân.

Thứ ba là, xây dựng nông thôn có đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển bền vững nông thôn. Cùng với xây dựng các thiết chế phục vụ hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, kết hợp với hội họp, học tập của cộng đồng ở thôn, bản, xã, thì điều quan trọng là phải khai thác, sử dụng có hiệu quả các cơ sở vật chất đó, phát triển các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao cho thanh niên, thiếu niên, hội viên các hội phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh, người cao tuổi ở nông thôn; xây dựng quy ước của làng, bản, thôn, ấp về xây dựng nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội, chống mê tín dị đoan và tệ nạn xã hội, giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ trật tự, an toàn thôn, xóm, bảo vệ môi trường; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, giữ gìn và bồi đắp truyền thống đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giảm nghèo, vươn lên làm giàu trên quê hương mình.

Thứ tư là, bảo vệ và phát triển môi trường nông thôn xanh, sạch, đẹp; khắc phục tình trạng ô nhiễm về nguồn nước, không khí ở địa bàn thôn, xã; xây dựng, cải tạo hệ thống tiêu thoát nước thải, thu gom và xử lý rác thải, chuyển các chuồng, trại chăn nuôi, nhất là các cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi các khu dân cư, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, hầm bi-ô-ga của mỗi hộ gia đình, quy hoạch xây dựng và quản lý nghĩa trang...

Thứ năm là, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Ðảng bộ, chi bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở; hiệu lực hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; phát huy vai trò và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, thôn, ấp, bản; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ và phương pháp công tác của đội ngũ cán bộ ở cơ sở.

TTHTQT